Vì sao cách chúng ta nói chuyện với trẻ nhỏ là rất quan trọng – BBC News Tiếng Việt

Vì sao cách tất cả tất cả tất cả tất cả tất cả chúng ta trò chuyện với trẻ nhỏ là rất quan trọng

  • Melissa Hogenboom
  • BBC Future

15 tháng 10 2019

Tùy thuộc vào những cuộc trò chuyện mà những đứa trẻ này nghe được khi còn non nớt, chúng hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn có thể có đời sống rất khác nhau (Ảnh: Getty Images)

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Tùy thuộc vào những cuộc trò chuyện mà những đứa trẻ này nghe được khi còn non nớt, chúng có thể có cuộc sống rất khác nhau (Ảnh: Getty Images)

Có thể có một cách đơn thuần để giúp não bộ trẻ nhỏ cải tổ tốt hơn và có quyền lợi lâu dài.

Cuộc trò chuyện mau chóng kết thúc khi chuyện trò với một đứa trẻ sơ sinh. Chúng không trả lời. Chúng không than phiền khi ta nói trời lại sắp mưa, hoặc cười khi ta nói đùa.

Đồng thời, những tuần tiên phong tôi bị nhiều việc gây mệt mỏi. Con nhỏ của tôi không ngủ vào lúc đáng phải ngủ và vì vậy làm tôi mất ngủ theo. Do vậy chẳng lạ gì mà tôi ít chuyện trò với nó.

Khi trẻ có nhiều phản ứng hơn thì việc này dễ hơn, nhưng tôi chưa thấy cần nói nựng ngay khi nó nói ú ớ, hay nói giọng trẻ con với nó một cách rõ ràng chập chạp. Tôi thường kinh ngạc nhìn người khác, có vẻ nhiều kinh nghiệm tay nghề làm cha mẹ hơn, chuyện trò đàng hoàng không thiếu với con tôi.

Vài tháng sau, khi những bé khởi đầu phản ứng nhiều hơn, bập bẹ và cười khúc khích, thì việc này là thuận tiện hơn. Nhưng điều tra và điều tra và nghiên cứu và điều tra và điều tra cho thấy 1 số ít ít cha mẹ vẫn không chuyện trò nhiều với con cái, và việc này có thể gây ra hậu quả tiêu cực kéo dài – hậu quả thậm chí còn còn còn có thể nhìn thấy trong não.

Vào giữa những năm 1990, đã có một khám phá đáng quan ngại về sự độc lạ rõ ràng về kết quả ngôn từ ở trẻ em. Các nhà nghiên cứu Betty Hart và Todd Risley đã đến nhà những mái ấm mái ấm mái ấm mái ấm gia đình thuộc những nhóm kinh tế tài chính tài chính tài chính xã hội khác nhau, dành mỗi tháng một giờ để ghi âm, trong hơn 2 năm.

Phân tích dữ liệu, họ phát hiện ra rằng trẻ nhỏ ở thực trạng nghèo nhất chỉ nghe được 1/3 số từ mỗi giờ so với những trẻ có thực trạng thu nhập cao hơn. Mở rộng quy mô, họ cho rằng khi những đứa trẻ này lên 4, sẽ có độ chênh lệch 30 triệu từ giữa những đứa trẻ có hoàn cảnh nghèo khó so với những đứa trẻ ở gia đình giàu hơn và có chuyên môn hơn.

Nghiên cứu này là không hoàn thiện. Quy mô lấy mẫu là nhỏ, và không rõ liệu khoảng chừng chênh về số từ có lớn đến mức như họ nêu hay không. Các nhà phê bình khác sau đó đã chứng tỏ rằng trẻ nhỏ gia đình nghèo nghe được nhiều từ hơn so với báo cáo giải trình của Hart và Risley khi tính đến ngôn từ mà chúng nghe được người ta nói ở trong nhà cũng như ngoài nhà. Phản biện ý phê bình này, một nhóm khác nhấn mạnh yếu tố rằng “trẻ nhỏ không có được quyền lợi khi nghe những chủ đề mà người lớn bàn bạc”.

Nếu sự “chênh lệch về từ” này mà tồn tại, thì đó là vấn đề rắc rối vì ngôn từ là một trong những yếu tố tiên đoán quan trọng nhất về việc làm của bạn sau này trong cuộc sống, từ những năm học tiên phong đến ĐH và rồi đến nghề nghiệp của bạn. Để đọc, để học những khái niệm toán học và thậm chí để thể hiện trí nhớ, bạn cần ngôn ngữ.

“Nếu ngôn từ chưa đủ mức cần thiết, thì bạn bạn đã xuất phát chậm trong cuộc đua,” Kathy Hirsh-Pasek, người chỉ đạo Phòng Thí Nghiệm Ngôn Ngữ Trẻ Sơ Sinh của Đại học Temple ở Philadelphia, nói.

Độ chậm trễ này cũng diễn ra trong não. Các nhà thần kinh học hiện có thể chỉ ra cách mà bộ não phản ứng với việc tiếp xúc sớm với ngôn ngữ. Một nhóm, được chỉ đạo bởi Rachel Romeo, một nhà thần kinh học và nhà nghiên cứu bệnh học ngôn từ tại Bệnh Viện Nhi Đồng Boston, đã chỉ ra rằng những tương tác đàm thoại có thể có lợi ích rõ ràng trong việc tăng trưởng não bộ. Nhóm nghiên cứu đã ghi âm những cuộc hội thoại trong những gia đình, theo dõi cả lượng ngôn từ được tiếp cận và số lượt nói chuyện. Những đứa trẻ có nhiều cuộc trò chuyện hơn là giỏi hơn trong những trách nhiệm cần hiểu ngôn ngữ.

Những đứa trẻ này cũng có những liên kết chất trắng mạnh hơn trong não ở hai khu vực chính quan trọng so với ngôn ngữ, một sự ngày càng tăng làm tăng vận tốc xử lý ở những khu vực này. Điều này, Romeo nói, cho thấy rằng số lần trò chuyện góp thêm phần phát triển trí não. “Chúng tôi thấy rằng việc càng có nhiều cuộc trò chuyện là có đối sánh tương quan với những liên kết can đảm và mạnh mẽ hơn trên đường dẫn này, và do đó tương quan đến kiến thức và kỹ năng ngôn từ của trẻ em,” Rome Romeo nói.

Đối với sự phát triển của trẻ, cuộc trò chuyện qua lại - không chỉ đơn thuần là nghe thụ động - mới là điều quan trọng nhất.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Đối với sự phát triển của trẻ, cuộc trò chuyện qua lại – không chỉ đơn thuần là nghe thụ động – mới là điều quan trọng nhất.

Thật vậy, nhiều bằng chứng cho thấy rằng đó không phải là việc nghe thụ động – hay thậm chí là lượng từ mà một đứa trẻ nghe thấy – là quan trọng nhất. Thay vào đó, chất lượng của cuộc trò chuyện mới là quan trọng. Nghĩa là việc trao đổi lần lượt qua lại, yên cầu lắng nghe và đáp lại, là quan trọng. Nó là cái mà Hirsh-Pasek và cộng tác viên lâu năm của bà, Roberta Golinkoff, gọi là “song ca đối thoại”, vì bạn không hề song ca một mình được. Trên thực tế, một nghiên cứu khác cho thấy nếu một cuộc trò chuyện bị gián đoạn bởi một cuộc gọi điện thoại, đứa trẻ không học một từ vừa được trình bày, nhưng sẽ học được từ này nếu không bị gián đoạn.

Nhóm của Romeo đã tiến thêm một bước trong một nghiên cứu nhỏ tiếp theo giúp những cha mẹ hiểu được tầm quan trọng của những cuộc trò chuyện 2 chiều. Trong nhóm này, họ đã tìm thấy sự ngày càng tăng chất xám ở vùng ngôn từ và xã hội trong bộ não trẻ em.

“Đó không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên,” bà nói. Việc những vùng xã hội và ngôn từ của não là “đi cùng với nhau” trong những mối quan hệ cha mẹ với con cái là điều hợp lý, vì ngôn từ làm cơ sở cho những mối quan hệ xã hội, và cả hai thứ này đều là điều cốt yếu đối với cách học của chúng ta,” bà nói. “Trên cơ sở đó chúng ta kiến thiết xây dựng kỹ năng ngôn ngữ, và kỹ năng ngôn ngữ này sẽ tạo thêm nền tảng cho nhận thức ở cấp độ cao hơn.”

Việc tham gia vào một hoạt động giải trí giải trí giải trí giải trí tương tác, như đọc sách, khiến những quy mô bộ não hai người tham gia đồng quy.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Việc tham gia vào một hoạt động tương tác, như đọc sách, khiến những mô hình bộ não hai người tham gia đồng quy.

Trong khi đó, một nhóm khác, ở Phòng Thí Nghiệm Trẻ Em Princeton, đã theo dõi bộ não của những em bé và những người thí nghiệm, nhận thấy rằng khi họ tham gia vào game show tương tác, như hát hoặc đọc, những mô hình kích hoạt não của họ mở màn đồng quy. Nói cách khác, bộ não của họ “cặp đôi với nhau”, Elise Piazza, ở Viện Khoa Học Thần Kinh thuộc Đại Học Princeton, tác giả chính của tác phẩm này, giải thích. Vào những thời điểm khác, khi tham gia vào những hoạt động riêng biệt, sự “đồng bộ thần kinh” giữa những bộ não của họ biến mất, bà nói.

“Đây như thể những bạn hợp tác ăn ý đến mức các bạn hoạt động không phải là hai người, mà là một người. Đó là mức mà chúng tôi nghĩ việc học được nâng cao và xẩy ra, và đó là những gì mà việc trò chuyện mang lại cho bạn,” Hirsh-Pasek nói về tác phẩm này.

Tình trạng kinh tế xã hội

Khi cho rằng việc trò chuyện là rất quan trọng từ khi còn nhỏ tuổi, chúng ta nên lo ngại đến đâu về “sự chênh lệch số lượng từ” – và nguyên nhân là từ đâu?

Ngay cả khi nghiên cứu của Hart và Risley là không hoàn hảo, thì ý kiến rằng một sự chênh lệch đáng kể về kinh tế xã hội đã được hàng chục nghiên cứu tiến hành. Ví dụ, năm 2008, Meredith Rowe của Đại Học Harvard đã phát hiện ra rằng các kiểu đối thoại có sự độc lạ đáng kể giữa các gia đình có thu nhập thấp và thu nhập cao – một phần là do mức độ giáo dục khác nhau của cha mẹ trong các nhóm này.

Cha mẹ có thu nhập cao hơn thường sử dụng câu dài hơn và nhiều từ vựng hơn với con cái họ - một phần là vì trình độ học vấn của họ.

Nguồn hình ảnh, Nappy.co

Chụp lại hình ảnh,

Cha mẹ có thu nhập cao hơn thường sử dụng câu dài hơn và nhiều từ vựng hơn với con cái họ – một phần là vì trình độ học vấn của họ.

Nói cách khác, “kiến thức nuôi dạy con” đóng góp tích cực cho sự phát triển vốn từ vựng, Rowe nói. Trong nghiên cứu này, cha mẹ có thu nhập cao hơn sử dụng câu dài hơn và nhiều từ vựng hơn so với cha mẹ có thu nhập thấp hơn. “Phát hiện then chốt ở đây là sự tác động ảnh hưởng tác động của sự nghèo khó đến cách cha mẹ giao tiếp với con cái là do sự hiểu biết kém của cha mẹ về sự phát triển của trẻ em,” bà nói.

Nếu có bất kỳ mối liên hệ nào giữa thực trạng kinh tế xã hội với năng lực nói của trẻ, thì có thể là do sự nghèo khó có liên quan cả đến trình độ học vấn thấp hơn cũng như sự stress mệt mỏi nhiều hơn. Cả hai yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc trò chuyện với trẻ.

Nhưng thực trạng kinh tế xã hội không phải là quyết định.

Trong một nghiên cứu năm 2015, Hirsh-Pasek và các đồng nghiệp đã xem xét cách nói của 60 trẻ nhỏ 2 tuổi, đều thuộc gia đình nghèo khó; họ quay trở lại sau 1 năm để xem chúng phát triển thế nào. Đúng như dự đoán, những đứa trẻ tham gia trò chuyện nhiều khi 2 tuổi đã có ngôn ngữ văn minh hơn sau 1 năm. Những đứa ít chuyện trò có điểm kém hơn về khả năng ngôn ngữ.

Trẻ em có nhiều cuộc trò chuyện khi 2 tuổi sẽ có ngôn ngữ phát triển hơn một năm sau đó.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Trẻ em có nhiều cuộc trò chuyện khi 2 tuổi sẽ có ngôn ngữ phát triển hơn một năm sau đó.

Vì những đứa trẻ này đều ở điều kiện thu nhập thấp, kết quả cho thấy chỉ riêng sự nghèo khó không phải là điều khiến trẻ có kỹ năng ngôn ngữ kém hơn.

“Không phải chỉ là việc bạn sinh ra trong môi trường tự nhiên có nguồn lực hạn chế, mà còn là cách bạn tương tác với con bạn trong môi trường đó, có vẻ như đã tạo ra sự khác biệt.” Hirsh-Pasek nói.

Mặc dù sự chênh lệch về lượng từ có thể có hậu quả lâu dài, nhưng tin tốt đẹp là tất cả các bậc cha mẹ đều trò chuyện với con cái mình ít nhất là 1 số ít thời gian. Nếu cha mẹ hiểu rằng tương tác chất lượng là quan trọng hơn số lượng, thì tất cả trẻ nhỏ đều có thể được lợi.

Trẻ em mà càng được thưởng thức xã hội, cho dù với cha mẹ hoặc với người chăm nom nào khác xung quanh, thì chúng càng học được nhiều hơn, bà nói thêm.

Cũng có nhiều cách khác giúp đẩy nhanh quá trình này. Sự chỉ bảo của cha mẹ là hiệu quả, nhưng mất thời hạn và tốn kém. May mắn thay, có những cách đơn thuần và đã được thử nghiệm khác giúp khuyến khích các cuộc trò chuyện có chất lượng hơn.

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mà càng có nhiều trải nghiệm xã hội thì chúng sẽ càng học được nhiều hơn.

Nguồn hình ảnh, Getty Images

Chụp lại hình ảnh,

Trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mà càng có nhiều trải nghiệm xã hội thì chúng sẽ càng học được nhiều hơn.

Hirsh-Pasek và các đồng nghiệp đã chỉ ra rằng trong các hội đồng có thu nhập hạn chế ở 1 số ít ít khu dân cư nghèo nhất ở Philadelphia, việc đưa ra lời nhắc ở các siêu thị làm tăng cuộc trò chuyện có ý nghĩa lên tới 33%. Những thứ này có thể đơn giản như những tấm áp phích màu mè đặt ra những câu hỏi như “Sữa từ đâu ra?” và “Bạn thích rau gì?”.

Tôi đã đến thăm một số khu vực ở Philadelphia (kể cả ở một trạm xe buýt, cũng như một sân chơi cho trẻ nhỏ tại một thư viện và tại các game show trên bàn có kích thước lớn ở kho lưu trữ bảo tàng cho trẻ em Please Touch ở Philadelphia) nơi mà Hirsh-Pasek và nhóm của bà đang thử nghiệm một cách tiếp cận khác. Ở đây, người ta sử dụng các game show để khuyến khích nhiều khía cạnh quan trọng của việc học, từ xã hội đến nhận thức, từ trấn áp phản xạ (lò cò theo ô số) đến chức năng thực hiện (trò chơi giải đố). Điều quan trọng, chúng được sắp xếp ở nơi mà người ta đã tụ tập thành nhóm. Và mặc dù các trò chơi là cho trẻ em nhưng người lớn cũng thích.

Dự án mang tên “Nơi vừa học vừa chơi”, có sự cộng tác với các hội đồng thành phố và kiến trúc sư để “biến đổi địa điểm hàng ngày thành cơ hội học tập”. Hơn nữa, sự theo dõi ngặt nghèo của các nhà nghiên cứu gần đó cho thấy rằng một số trong số các dự án Bất Động Sản này đã giúp tăng các cuộc hội thoại lên 30-55%. “Như một món quà bổ sung, khi bạn làm cho những môi trường này trở nên thú vị, cha mẹ các cháu thường sẽ không xem điện thoại cảm ứng cảm ứng nữa, nhìn vào mắt con mình và có một cuộc trò chuyện có ý nghĩa,” Hirsh-Pasek nói. “Hãy tưởng tượng những gì chúng ta có thể làm được nếu chúng ta làm cho thế giới vui hơn một chút.” Với đủ ý chí, các nhà nghiên cứu nói rằng nó sẽ dễ dàng tái tạo những không gian tương tự như vậy ở nhiều thành phố khác.

Dự án Urban Thinkscape biến không gian công cộng thành các hoạt động mang tính học tập.

Nguồn hình ảnh, Sahar Coston-Hardy Photography

Chụp lại hình ảnh,

Dự án Urban Thinkscape biến không gian công cộng thành các hoạt động mang tính học tập.

Ở Anh, cơ quan chính phủ đã đưa ra một dự án liên quan trên mạng, với những gợi ý đơn giản khuyến khích cha mẹ nói chuyện với con cái nhiều hơn. ‘Hungry Little Minds’ là một chiến dịch 3 năm với mục tiêu “khuyến khích các bậc cha mẹ tham gia vào các hoạt động hỗ trợ cho con mình được học tập từ sớm và giúp chúng sẵn sàng chuẩn bị đến trường và học cao hơn nữa”.

Với một số người, sự căng thẳng của cuộc sống hàng ngày khiến họ có ít thời hạn nói chuyện và vui chơi. Nhưng giờ đây rõ ràng là những kiểm soát và điều chỉnh tinh xảo trong cách chúng ta nói chuyện với trẻ em – và lắng nghe chúng – có thể thực sự làm bộ não của chúng phát triển tốt hơn.

Được trang bị bằng kiến thức này, bây giờ tôi có sự suy nghĩ về mô hình não con tôi khi tôi dỗ dành và nói chuyện với nó, nói với nó những mẩu chuyện trong ngày và còn hỏi nó xem nó trả lời ra sao. Thường nó đáp lại bằng nụ cười không răng. Những lần khác, nó không phản hồi gì. Nhưng ngay cả như vậy, giờ đây tôi hiểu rằng bộ não của nó đang phát triển vì điều đó, một cái gì mà tất cả chúng ta, dù là cha mẹ hay người chăm sóc nó, có thể đã góp phần quan trọng vào đó.

Viết một bình luận