Người bị ‘ma ám’ nhìn thấy gì? – BBC News Tiếng Việt

Người bị ‘ma ám’ nhìn thấy gì?

8 tháng 9 2015

Tôi nằm ngửa, kẹt cứng trong một căn hầm trắng với ánh sáng lập loè, vách hầm chỉ cách mũi chừng 15cm.

Có tiếng động cơ kỳ lạ ở xung quanh và tôi nghe thấy tiếng bước chân ở căn phòng phía ngoài.

Ánh sáng mờ dần và những tâm ý của tôi mở màn nhạt nhoà đi theo lời nói của một người đàn ông.

Một sự thanh thản kỳ lạ tràn về khi tôi nhận ra rằng tôi sẽ không còn trấn áp được tâm lý của mình nữa.

Cuộc thử nghiệm bắt đầu, tôi sắp bị ’nhập’.

Người sắp trấn áp tâm lý của tôi là Eamonn Walsh, một nhà tâm lý học sử dụng thuật thôi miên để điều tra và điều tra và điều tra và điều tra và điều tra và điều tra và nghiên cứu và điều tra và điều tra và điều tra và điều tra và điều tra chứng rối loạn ý thức ở Viện Thần kinh học tại London.

Ý tưởng này gồm có việc biến những người khoẻ mạnh thành những ‘bệnh nhân ảo’, bị hội chứng hoang tưởng toàn diện, ví dụ như trường hợp những người cảm thấy bị ma ám, từ đó giúp những nhà khoa học khám phá căn bệnh này theo một cách mới để rồi tìm ra giải pháp chữa trị.

Cũng dễ hiểu khi những nhà khoa học không muốn chiêu thức của họ bị so sánh với thuật thôi miên trên sân khấu.

“Phương pháp này không phải dành cho giải trí, chúng tôi có mục tiêu nghiên cứu cụ thể,” Mitul Mehta, người hợp tác với ông Walsh trong nghiên cứu này, nói.

Đây là một sáng tạo độc đáo sáng tạo táo bạo, nhưng liệu nó có hiệu suất cao hay không? Và cảm xúc mất trọn vẹn trấn áp so với tâm lý của mình như thế nào?

Thú thật, tôi hơi ngần ngại khi bước vào phòng thí nghiệm ngày hôm đó.

Nghiên cứu bằng thuật thôi miên có một lịch sử hơi mơ hồ, và một trong những thí nghiệm ban đầu đã suýt biến thành một vụ giết người.

Có hai nhà khoa học nổi tiếng ở Pháp hồi đầu thế kỷ 20 là Jean-Martin Charcot, được xem là ‘cha đẻ của ngành thần kinh học’, và Georges Gilles de la Tourette, người nổi tiếng nhờ phát hiện ra căn bệnhsau này được mang tên ông.

Họ đã nghiên cứu những trường hợp mắc chứng ‘icteria’, là chứng bệnh khiến bệnh nhân đùng một cái mất cảm xúc hoặc không hề cử động được tay chân, dù không bị thương tổn gì.

Cả hai bác sỹ tin rằng chứng rối loạn này có 1 số ít đặc thù giống với thuật thôi miên – một giả thiết họ đã chứng tỏ bằng cách chỉ ra rằng những người bị icteria thường bị tác động ảnh hưởng ảnh hưởng bởi những ảo giác hơn những người khoẻ mạnh.

Gilles de la Tourette quyết định triển khai thôi miên Blanche, một bệnh nhân mắc chứng icteria.

Ông đặt bà vào thực trạng bị thôi miên, sau đó chỉ cho bà một ly bia ‘có thuốc độc’ và nhu yếu bà đưa cho một người đàn ông khác, ông G.

Bà Blanche vui tươi làm theo và hôn ông G trong lúc đưa bia cho ông này, rồi ông này vờ vịt chết.

Bà sau đó phủ nhận mọi sự liên can đến vụ trông như thể án mạng này.

Thái độ ngạo mạn này có lẽ đã khiến Gilles de la Tourette chút nữa thì mất mạng.

Vào một ngày tháng 12 năm 1893, ông đã bị một phụ nữ chặn đường trước nhà.

Bà Rose Kamper-Lecoq, 29 tuổi, là một trong những bệnh nhân tại bệnh viện nơi ông làm việc.

Bà đã rút một khẩu súng ngắn và bắn ông ba lần vì cho rằng những buổi thôi miên đã khiến bà mất trấn áp so với tâm lý của mình.

Một trong những viên đạn bắn xuyên qua sọ của ông. Nhưng ông vẫn đủ khoẻ mạnh để viết thư cho một người bạn vào chiều hôm đó, với kết thư: ‘Quả là một câu truyện hài hước’.

Câu chuyện của bà Kamper-Lecoq càng trở nên đáng chăm sóc hơn trong khoa học ngày nay.

Dù sự hung hăng của bà không phải do bị thôi miên mà ra, nó có vẻ như bắt nguồn từ nhiều ảo giác mà những nhà tâm lý như Walsh đang đặt vào những bệnh nhân ảo của mình.

Bà này nói bà chắc rằng Gilles de la Tourrette yêu bà – một chứng rối loạn được gọi là ‘erotamania’ (hội chứng được yêu).

Bà cũng tin một cách sai lầm đáng tiếc rằng có ai đó đang tinh chỉnh và điều khiển và tinh chỉnh và tinh chỉnh tâm lý bà từ xa: Đây chính là chiêu thức mà tôi ĐK thử. Tôi chỉ kỳ vọng rằng mình sẽ không bắn xuyên qua sọ của ai đó.

Trước khi bị ‘nhập’, tôi được kiểm định năng lực bị thôi miên.

Quy trình này gồm có một loạt động tác thư giãn, tiếp đó bằng một loạt ảo giác có mục đích tác động nhận thức và hành vi của bạn.

Ví dụ, tôi được nói là tôi hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn có thể nghe tiếng một con ruồi bay quanh đầu mình, sau đó, một nhà nghiên cứu nói với tôi rằng một quả bóng bay sẽ nâng tay tôi lên cao.

Tôi nhớ là đã cảm thấy tay mình rất nhẹ, cứ như thể nó chứa đầy khí helium, và nó đã lơ lửng trên không trung trước khi tôi kịp ý thức được điều đó.

Trong khi đó, tiếng ruồi bay cảm xúc như hàng loạt hình ảnh và âm thanh mà bạn nghe thấy khi bạn rất mệt mỏi và mở màn chìm vào giấc ngủ – bạn biết rằng chúng không có thật, nhưng vẫn nhận thức về chúng.

Dựa vào phản ứng của mình, tôi được nhìn nhận 10 trên 12 điểm, đưa tôi vào nhóm 10% những người dễ thôi miên nhất.

“Một số người cho rằng thuật thôi miên trọn vẹn là trò lừa đảo, trong khi một số ít ít ít ít khác lại nghĩ rằng nó có thể tạo những sự đổi khác to lớn so với nhận thức, tâm lý và ký ức,” bà Rochelle Cox, một nhà khoa học tại Đại học Macquarie ở Úc, nói.

Mặc dù không hề cảm thấy là mình vờ như bị thôi miên, nhưng tôi cũng đã hỏi Walsh liệu ông có bao giờ lo lắng rằng có những ai đó giả vờ như thể họ bị thôi miên thật hay không.

Ông chấp thuận đồng ý rằng năng lực này luôn ám ảnh khu công trình nghiên cứu của mình.

“Đó là một câu hỏi yêu dấu của những nhà đánh giá và thẩm định mỗi khi tôi gửi nghiên cứu đến một tập san nào đó,” ông nói.

Tuy nhiên sự tiến bộ của công nghệ quét não đã khởi đầu giải toả những quan ngại này.

Một nhà thôi miên có thể nhìn vào máy quét não và nhu yếu bệnh nhân nhìn vào những sắc tố khác nhau trong một bức hình trắng đen.

Khi đó, ta có thể thấy những vùng trong não đảm nhiệm trách nhiệm giải quyết và xử lý màu sẽ hoạt động giải trí giải trí giải trí giải trí giải trí giải trí giải trí một cách bận rộn, như thể bệnh nhân đang nhìn vào một cảnh với những màu sắc có thật.

Tuy nhiên khi một bệnh nhân được yêu cầu ‘giả vờ’, hoặc tưởng tượng ra là có những màu sắc trong bức hình đen trắng đó, tất cả tất cả tất cả tất cả tất cả chúng ta sẽ không thấy cùng một phản ứng như vậy.

Kết quả này đã giúp dẹp tan nhiều nghi ngờ.

Trong quá trình nghiên cứu, những nhà khoa học cũng tiến gần đến việc hiểu hơn điều gì làm nên trạng thái thôi miên.

Có vẻ như chiêu thức thôi miên đã kích hoạt một thứ giống như công tắc nguồn ở phần thuỳ trán.

Các vùng này được cho là xây đắp nên ‘những tâm lý cao cấp’ – ví dụ như những nhu cầu, ham muốn hoặc động lực của bạn.

Nếu vùng này ngưng hoạt động, bạn sẽ hành vi và cảm xúc được yếu tố mà không biết là vì sao.

Điều này có thể lý giải vì sao những sinh viên uống nhiều bia rượu được đánh giá là dễ bị thôi miên hơn khi được kiểm định.

Chất cồn được cho là làm suy yếu hoạt động ở vùng thuỳ trán, Zoltan Dienes từ Đại học Sussex ở Brighton, Anh quốc, nói.

Tuy nhiên, vì sao một số người bị rơi vào trạng thái này một cách tự nhiên, trong khi một số khác lại khó hơn, thì vẫn còn là một nghi vấn.

Nghiên cứu so với những cặp song sinh cho thấy nó có thể được di truyền.

Quan trọng hơn, một số người thường có cùng một số điểm về năng lực bị thôi miên. Như vậy, nó có thể như là một trong những chức năng cơ bản của khối óc của chúng ta, như IQ.

Nhiều nghiên cứu đã xem xét liệu thuật thôi miên có thể được sử dụng để thay thế thuốc giảm đau hay không.

Một số thử nghiệm cũng đã xem liệu thuật thôi miên có giúp giảm stress, giúp những bệnh nhân ung thư vượt qua sự mệt mỏi trong quy trình tiến độ hoá trị, những triệu chứng khó chịu ở đường ruột cũng như tăng năng lực học những kiến thức và kỹ năng mới của học viên hay không.

Vào đầu những năm 2000, nghiên cứu mở màn chuyển hướng. Thay vì làm cho những người bị bệnh cảm thấy khá hơn, những nhà tâm lý học lại dùng thuật thôi miên để gắn ảo giác vào đầu những người khoẻ mạnh.

Cũng giống như những nghiên cứu của Gilles de la Tourette một trăm năm trước, một trong những nghiên cứu tiên phong bắt nguồn từ trường hợp một bệnh nhân bị icteria và cảm xúc như không hề vận động và vận động và chuyển dời chân trái, dù không bị bất kể chấn thương nào.

Để khám phá xem khoa học có năng lực thể hiện lại được căn bệnh này hay không, những nhà khoa học đã thôi miên để một bệnh nhân khác có những cảm xúc tương tự như như rồi đặt ông này vào máy quét não.

Kết quả, được đăng tải trên tập san y học The Lancet, cho thấy những quy trình hoạt động trong não của ông giống hệt với bệnh nhân bị icteria.

Điều này chứng minh năng lực thuật thôi miên có thể được sử dụng để thử nghiệm những giả thiết về những hội chứng rối loạn thần kinh.

Kể từ đó, những nhà tâm lý học đã sử dụng giải pháp này để tạo ra những loại ảo giác, bao gồm hội chứng erotomania, hội chứng capgras (cảm giác như người bạn yêu bị thay thế bởi một kẻ giả mạo), và hội chứng mất khả năng tự nhận dạng trong gương – khiến người ta không hề nhận ra chính mình trong gương.

‘Các bệnh nhân có thể bao trùm những tấm gương trong nhà vì họ cho rằng một kẻ lạ mặt đang đi theo họ,” bà Cox nói.

Phương pháp thôi miên có thể tạo ra hội chứng gần như tương tự.

Tuy nhiên những hội chứng này đều có thể bị đảo ngược, những nhà nghiên cứu trấn an tôi – tất cả những người tham gia thử nghiệm rời khỏi phòng thí nghiệm mà không mang theo hội chứng nào.

Phương pháp thôi miên giúp những nhà khoa học tạo ra những hội chứng tuỳ thích, đồng thời tận dụng điều đó để xem những quy trình nào đang hoạt động không thông thường trong não bộ, làm Open những ảo giác trên.

Cuối cùng, bạn có thể sử dụng những đối tượng người tiêu dùng bị thôi miên để thử nghiệm một số biện pháp trị liệu trước khi vận dụng chúng với những bệnh nhân tâm thần.

Tất nhiên, nhiều nhà nghiên cứu tỏ ra hoài nghi trước quyền lợi của chiêu thức này.

Ví dụ như ông Dienes, người đồng ý rằng những bệnh nhân ảo có thể sẽ giúp ích cho hội chứng icteria – chứng không hề cử động tay chân.

Tuy nhiên ông hoài nghi rằng bạn có thể dùng thuật thôi miên để khiến ai đó thưởng thức những căn bệnh đáng sợ như tinh thần phân liệt.

Walsh thừa nhận rằng phương pháp này không thể tái tạo lại mọi góc nhìn của một căn bệnh, nhưng ông tin rằng “đây là một cách nhìn khác – như thể bạn chiếu ánh sáng vào bóng tôi từ một góc khác”.

Trước khi tôi để mình bị thôi miên, Walsh cho tôi xem hai bức tranh của hoạ sỹ Caravaggio từ cuối thế kỷ 16 để lý giải về những người tin rằng họ bị ma ám.

Một bức lột tả Thánh Matthew như là kẻ mù chữ. Chân ông bị dính bẩn vì việc đồng áng. Một thiên thần đang nắm tay ông và hướng dẫn viết sách phúc âm.

Trong bức tranh thứ hai, ông được ‘thăng chức’, trông thật sạch và có vầng hào quang trên đầu. Một thiên thần bay trên đầu ông và thì thầm những lời của Chúa.

Walsh nói cả hai bức tranh diễn đạt cảm xúc của những người cho rằng họ bị ma nhập: họ cảm xúc như đang bị ai đó trấn áp hành vi của mình, hoặc một người nào khác đang trực tiếp đặt những tâm lý vào đầu mình.

Những cảm xúc này có thể là do các chứng rối loạn tinh thần như tâm thần phân liệt hay trầm cảm, hoặc các phong tục tập quán như lên đồng, nhập đồng (Saman giáo), khiến người ta nghĩ rằng họ đang truyền đạt ý nghĩ của một linh hồn khác.

Walsh nói tôi sẽ thưởng thức cả hai.

Một trong những thử thách lớn nhất của nhóm nghiên cứu là chọn các ảo giác không quá đáng sợ.

Những câu truyện về các trường hợp bị trấn áp tâm lý thường phản ánh văn hoá của từng thời – vào thời Cách mạng Công nghiệp, người ta cho rằng sự nở rộ của các nhà máy sản xuất đang tác động đến hành vi của họ, ảo giác của Kamper-Lecoq là do thuật thôi miên và hồi đầu Thế kỷ 20, người ta cho rằng các ăng ten radio đã cài ý nghĩ vào đầu họ.

Vì vậy, thay vì tạo ra một ảo giác ma quỷ nào đó, nhóm nghiên cứu đã kể câu truyện về một ‘kỹ sư’ nghiên cứu cách kiểm soát tâm lý – một câu truyện không quá đáng sợ, nhưng rất thích hợp với những lo ngại ngày này về vấn đề quyền riêng tư và tự do cá nhân.

Walsh đặt tôi vào một máy quét não cũ. Ban đầu, tôi rất hoảng sợ với cảm xúc bị giam giữ, nhưng sau đó tôi khởi đầu quên dần cảm xúc này trong lúc ông đếm ngược từ 20 và nhẹ nhàng đưa tôi vào trạng thái bị thôi miên.

Với một cây bút và tờ giấy, nhiệm vụ của tôi là nghe một từ và hoàn thành xong hàng loạt câu trong ba ngữ cảnh khác nhau.

Đầu tiên, Walsh nói với tôi rằng một kỹ sư đang thì thầm những từ sẽ đi sâu vào não bộ của tôi, rằng ông ta sẽ có thể kiểm soát được chuyển động tay của tôi, và sau cuối sẽ kiểm soát được hàng loạt suy nghĩ và cử động của tôi.

Ngữ cảnh thứ nhất chỉ có tác động rất nhỏ, tôi không cảm xúc như nó khác quá nhiều với đầu óc rời rạc ngày thường của mình.

Tuy nhiên khi Walsh nói với tôi rằng người kỹ sư này khởi đầu kiểm soát các hoạt động của tôi, thì sự độc lạ hiện ra rất rõ: Tay tôi khởi đầu di chuyển một cách máy móc và những ngón tay có vẻ như đang nhảy múa theo những giai điệu của riêng chúng.

Đó là lúc tôi bắt đầu nhìn thấy người kỹ sư Walsh nói đến thoắt ẩn thoắt hiện – một người đàn ông lưng gù, với nụ cười xếch và tóc đuôi gà.

Đến khi chúng tôi tiến sang ảo giác thứ ba thì cảm giác bị người kỹ sư kia điều khiển hiện ra rõ hơn trong tôi.

Tôi bắt đầu viết nhanh và mạnh hơn, tôi có cảm giác rằng tôi đang ngồi quan sát chính mình từ bên ngoài.

Có lúc tôi cảm giác như mình có thể nghe thấy người kỹ sư này quản lý và vận hành chiếc máy điều khiển suy nghĩ.

Chỉ đến khi Walsh ngưng thôi miên và đếm đến 20, tôi mới bắt đầu nhận ra cảm giác này kỳ lạ đến mức nào, cứ như bạn vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ đầy kích động.

Khi tôi nói cho Walsh nghe về cảm nhận của mình, ông nói rằng đó là điều thường thấy ở những người khác.

Một người khác từng tả là: “Tôi cảm giác như tay mình được làm từ kim loại.”

Nhiều người cũng giống như tôi, nhìn thấy cả người kỹ sư kia, nhưng một số khác lại cảm nhận ông này một cách mờ nhạt hơn.

Cho đến nay, các nghiên cứu này đã chỉ ra một số vùng trong não có thể đã tạo nên các ảo giác này.

Khi một người tin rằng tay của họ đang bị một người khác kiểm soát, bạn sẽ thường nhìn thấy sự link không bình thường giữa các vùng kiểm soát hoạt động trong não và vùng giúp chúng ta hiểu về động cơ và hành động của người khác.

Trong khi đó, khi một người được bảo rằng vị kỹ sư kia đang cài suy nghĩ vào đầu họ trong lúc viết, khu vực đảm nhiệm ngôn từ lại ít hoạt động hơn – có lẽ vì người này ý thức ít hơn về những từ họ đang viết.

Trong một số trường hợp khác, các nhà nghiên cứu phát hiện ra các vùng ‘phát hiện lỗi’ hoạt động mạnh mẽ hơn.

Thường ngày, những vùng này kiểm soát cách chúng ta di chuyển và bùng nổ khi một điều gì đó xảy ra ngoài dự kiến, như khi bạn bị ngã.

Sự gia tăng hoạt động ở vùng này cho thấy một thành viên cảm thấy chuyển động của mình khó đoán hơn, như thể không nằm dưới sự kiểm soát của người đó.

Nếu như cũng các vùng đó đều xuất hiện trong nghiên cứu so với những thành viên bị thôi miên và các bệnh nhân thực sự, điều này có thể giúp các nhà nghiên cứu tìm ra giải pháp mới, ví dụ, họ có thể tìm ra các loại thuốc có thể thay đổi hoạt động của các vùng liên quan.

Nhóm nghiên cứu cũng quan tâm đến việc sử dụng phương pháp phản hồi thần kinh – giúp các bệnh nhân nhìn thấy hoạt động thần kinh của mình trên màn hình hiển thị và từ đó tự điều chính hợp lý.

“Đến nay chúng ta vẫn chỉ sử dụng phương pháp này đối với hội chứng lo âu và rối loạn tăng động giảm chú ý, nhưng tôi không thấy lý do vì sao chúng không thể được vận dụng đối với những thứ như ảo giác”.

Ngoài vấn đề sức khoẻ thần kinh, nghiên cứu này cũng có thể giúp làm sáng tỏ những hiện tượng siêu thường và thậm chí còn là những gì diễn ra trong não của chúng ta khi một ý tưởng xuất hiện, ở lại trong trí óc và hướng dẫn hành động của chúng ta ra sao.

Tuy nhiên khoảng chừng thời gian bị thôi miên ngắn ngủi khiến tôi chú ý nhiều hơn về những suy nghĩ của mình, cách chúng thỉnh thoảng đột nhiên xuất hiện trong đầu.

Ít ra tôi khá chắc chắn rằng niềm tin của mình là do mình tạo ra…

Hay đó chỉ là vị kỹ sư kia đang dắt tay tôi, trong lúc tôi viết bài viết này?