VFF – Luật bóng đá 7 người do Uỷ ban Thể Dục Thể Thao Ban hành

Nếu trọng tài dừng trận đấu để cảnh cáo, thì trận đấu sẽ được tiếp tục  bằng quả phạt trực tiếp do cầu thủ của đội không phạm lỗi triển khai tại điểm bóng dừng.

LUẬT V

TRỌNG TÀI

Trọng tài có quyền xử phạt tổng thể những lỗi vi phạm, kể cả trong lúc trận đấu tạm dừng hoặc khi bóng ngoài cuộc. Mọi quyết định hành động hành động hành vi hành vi hành vi hành động hành động của Trọng tài chính trong trận đấu, kể cả hiệu quả trận đấu là những quyết định cuối cùng.

1. Nhiệm vụ và quyền hạn của trọng tài chính:

a. Bảo đảm việc áp dụng Luật Bóng đa.

b. Tránh thổi phạt những lỗi vi phạm trọn vẹn trọn vẹn trọn vẹn có thể tạo lợi thế cho đội phạm lỗi.

c. Ghi nhận mọi diễn biến của trận đấu, theo dõi thời hạn đúng theo quy định, đồng thời bù thêm những thời hạn đã mất vì hoạt động giải trí y tế hoặc những nguyên nhân khác.

d. Có quyền dừng trận đấu vì bất kể vi phạm nào về Luật Bóng đá, tạm dừng hoặc dừng hẳn trận đấu nếu xét thấy thiết yếu vì những sự cố như sự can thiệp của người theo dõi hay những nguyên do khác.

e. Ngay khi bước chân vào sân trận đấu chưa bắt đầu, có quyền cảnh cáo đối với bất kể cầu thủ nào có hành vi khiếm nhã. Hoặc truất quyền tranh tài đối với cầu thủ có vi phạm nặng hơn. (Trong trường hợp đó đội bóng có cầu thủ bị kỷ luật được quyền thay bằng cầu thủ dự bị).

f. Trừ cầu thủ và trợ lý trọng tài, không có bất kể người nào được vào sân nếu không có sự đồng ý của trọng tài chính.

g. Dừng trận đấu nếu nhận thấy có cầu thủ bị chấn thương trầm trọng; cần đưa ngay cầu thủ đó ra khỏi sân càng nhanh càng tốt, và lập tức cho trận đấu liên tục ngay.

h. Truất quyền tranh tài (bằng giải quyết và xử lý thẻ đỏ) đối với bất kể cầu thủ nào (theo đánh giá và nhận định và đánh giá và đánh giá của trọng tài) là có hành vi thô bạo, phạm lỗi thô bạo, có lời lẽ thoá mạ thô lỗ, và liên tục có hành vi khiếm nhã sau khi đã bị cảnh cáo.

i. Có ký hiệu cho trận đấu liên tục lại, sau những lần dừng trận đấu.

j. Quyết định bóng tranh tài đúng theo pháp luật của Luật II.

2. Những quyết định thi hành Luật:

a. Những cầu thủ bị thương đang chảy máu, trọng tài không cho phép thi đấu.

b. Trọng tài có thể biến hóa quyết định của mình, nhưng phải trước khi trận đấu được liên tục trở lại.

c. Nếu một cầu thủ cùng lúc vi phạm 2 lỗi liên tiếp, trọng tài xử phạt theo lỗi nặng hơn.

3. Chú ý: Với đối tượng người dùng tranh tài là vận động viên trẻ, thì một trong những trách nhiệm quan trọng của trọng tài trong bóng đá 7 người là giáo dục luật bóng đá, hướng dẫn những em hiểu và làm quen dần với hoạt động tranh tài bóng đá, qua đó phát hiện những năng khiếu bóng đá trẻ cho đất nước.

LUẬT VI

TRỢ LÝ TRỌNG TÀI VÀ TRỌNG TÀI THỨ TƯ

1. Trợ lý trọng tài:

Trong mỗi trận đấu phải có 2 trợ lý trọng tài với những trách nhiệm báo hiệu cờ những trường hợp sau:

a. Khi bóng đã vượt qua vạch số lượng số lượng số lượng giới hạn của sân.

b. Đội được đá phạt góc, phát bóng hoặc ném biên.

c.  Thời điểm có cầu thủ vi phạm việt vị.

d. Khi có nhu yếu về thay thế sửa chữa sửa chữa cầu thủ.

e. Khi có cầu thủ phạm luật xảy ra ngoài tầm quan sát của trọng tài chính.

f. Khi có hành vi phạm lỗi xảy ra gần vị trí của trợ lý trọng tài hơn trọng tài chính (kể cả trường hợp xảy ra phạm lỗi trong khu phạt đền).

Trong những tình huống đá phạt gần vị trí của mình, trợ lý trọng tài có thể vào sân giúp trọng tài chính kiểm soát khoảng cách 6m.

2. Trọng tài thứ tư:

– Trọng tài thứ tư là thành viên của tổ trọng tài, là người có thể thay thế trọng tài chính hoặc những trợ lý nếu vì nguyên do nào đó không thể làm nhiệm vụ được.

– Trường hợp trọng tài chính cảnh cáo nhầm cầu thủ hoặc đưa thẻ vàng thứ hai đối với một cầu thủ nhưng không phạt thẻ đỏ cầu thủ đó, thì trọng tài thứ tư phải lập tức vào sân thông tin cho trọng tài chính biết.

– Ngoài ra trọng tài thứ tư còn có trách nhiệm thông tin với trọng tài chính những hành vi đấm đá bạo lực diễn ra ngoài tầm quan sát của trọng tài chính và trợ lý trọng tài. Tuy nhiên trọng tài chính là người duy nhất có quyền quyết định những yếu tố liên quan đến trận đấu.

– Theo yêu cầu của trọng tài chính, trọng tài thứ tư có nhiệm vụ triển khai việc thay cầu thủ, và hoàn chỉnh những thủ tục hành chính liên quan đến trận đấu.

LUẬT VII

THỜI GIAN TRẬN ĐẤU

Một trận đấu bóng đá 7 người được chia làm 2 hiệp:

– Đối với lứa tuổi thiếu niên: Mỗi hiệp 25 phút.

– Đối với lứa tuổi nhi đồng: Mỗi hiệp 20 phút.

– Giữa 2 hiệp: Được nghỉ 10 phút.

Trong các trận đấu của các cầu thủ trẻ, không được tăng thời hạn tranh tài bằng những hiệp phụ. Sau khi kết thúc thời hạn thi đấu theo pháp luật mà tỷ số hoà, nếu cần phân định thắng thua, sẽ cho đá luân lưu 9m để xác lập đội thắng cuộc.

– Trọng tài phải bù thời hạn đã mất trong mỗi hiệp vì các lý do: thay thế cầu thủ, chuyển dời cầu thủ chấn thương rời sân, có hành động lê dài thời gian của cầu thủ hay bất kể lý do nào khác.

– Ngay khi kết thúc mỗi hiệp đấu, nếu đội bóng được hưởng quả phạt đền, hiệp đấu đó phải được lê dài đủ để thực thi xong quả phạt đó.

LUẬT VIII

QUẢ GIAO BÓNG VÀ “THẢ BÓNG CHẠM ĐẤT”

A. Qủa giao bóng:

a. Việc chọn sân và đá quả giao bóng được xác lập bằng cách tung đồng tiền. Đội ưu tiên được quyền chọn sân và đội còn lại được đá giao bóng. Cầu thủ 2 đội phải đứng trên phần sân của đội mình và cầu thủ đội không giao bóng phải đứng cách xa bóng tối thiểu 6m.

Cầu thủ đá giao bóng phải đá bóng về phía trước và không được chạm bóng lần 2 nếu bóng chưa chạm một cầu thủ khác. Bóng vào cuộc ngay sau khi được đá rời chân và di chuyển.

b. Sau bàn thắng, đội vừa bị thua được đá giao bóng.

c. Bắt đầu hiệp 2, hai đội đổi sân và đội không được giao bóng ở hiệp 1 được quyền giao bóng ở hiệp 2.

d. Một bàn thắng có thể được ghi trực tiếp từ quả giao bóng.

B. Quả “thả bóng chạm đất”:

Sau mỗi lần tạm dừng trận đấu vì bất cứ lý do gì không ghi trong luật, mà bóng còn trong cuộc, trọng tài sẽ thực thi quả “thả bóng chạm đất” tại nơi bóng dừng. Bóng vào cuộc sau khi chạm mặt sân. Nếu bóng sau khi chạm mặt sân lại vượt ra ngoài các vạch giới hạn sân trước khi có cầu thủ chạm bóng. trọng tài sẽ cho thực thi lại.

Bóng ngoài cuộc là:

a. Khi bóng đã vượt hoàn toàn ra ngoài đường biên giới dọc, biên ngang dù ở mặt sân hay trên không.

b. Khi trọng tài đã thổi còi dừng trận đấu.

Bóng trong cuộc là:

Ngoài ra bóng được kể là trong cuộc từ lúc mở màn trận đấu đến khi kết thúc trận đấu kể cả các trường hợp sau:

a. Bóng bật vào sân từ cột dọc, xà ngang, cột cờ góc, từ trọng tài chính hoặc trợ lý trọng tài đứng trong sân.

b. Khi trọng tài chưa thổi còi dừng trận đấu sau mỗi hành động được coi là phạm lỗi.

LUẬT X

BÀN THẮNG HỢP LỆ

Bàn thắng được công nhận khi quả bóng đã hoàn toàn vượt qua đường cầu môn dưới xà ngang dù ở trên không hay mặt đất trừ:

– Những trường hợp đặc biệt do quy định.

– Bóng do cầu thủ tiến công dùng tay hoặc cánh tay ôm, ném hoặc đấm vào cầu môn.

·         Đội ghi nhiều bàn thắng hơn là đội thắng, nếu hai đội không ghi được bàn thắng hoặc có số bang thắng bằng nhau, trận đấu được coi là hoà.

·         Đối với trường hợp đá phạt, bàn thắng chỉ được công nhận nếu bóng sút vào cầu môn đội phạm lỗi.

·         Bàn thắng không được công nhận nếu vì bất  cứ lý do gì không vượt qua đường cầu môn.

LUẬT XI

VIỆT VỊ

Trong bóng đá 7người Luật việt vị được pháp luật cụ thể như sau:

1. Một cầu thủ ở vị trí việt vị khi cầu thủ đó đã chuyển dời qua đường 13m thuộc phần sân đối phương và chiếm vị trí gần đường biên ngang sân đối phương hơn bóng, trừ trường hợp:

a. Nếu có 2 cầu thủ đối phương cùng đứng gần đường biên ngang như mình.

b. Nhận bóng do cầu thủ đối phương dữ thế dữ thế chủ động chuyền đến.

c. Nếu nhận bóng trực tiếp từ quả phát bóng, phạt góc, ném biên, thả bóng của trọng tài.

2. Một cầu thủ ở vị trí việt vị có thể chưa bị coi là phạm luật. Cầu thủ đó chỉ bị phạt việt vị nếu vào thời gian đồng đội chuyền bóng hoặc khống chế bóng, cầu thủ đó – theo nhận định của trọng tài – có hành vi chủ động trong việc:

a. Tham gia vào tình huống trận đấu.

b. Gây trở ngại cho cầu thủ đối phương.

c. Tìm cách chiếm lợi thế trong vị trí việt vị.

3. Nếu có cầu thủ phạm luật việt vị, trọng tài cho đội đối phương hưởng quả phạt trực tiếp.

4. Đường 13m của phần sân được xác lập bởi đường thẳng chạy suốt bề ngang sân, song song và cách đều đường biên ngang 13m.

Những quyết định thi hành Luật.

1. Phạt cầu thủ việt vị không tính ở thời gian nhận bóng, mà xác định vào thời gian đồng đội chuyền bóng về hướng cầu thủ đó. Như vậy một cầu thủ không ở vị trí việt vị trong thời điểm đồng đội chuyền bóng hay đá phạt và đã chạy nhanh hơn bóng thì không vi phạm lỗi việt vị.

2. Một cầu thủ đứng ngang hàng với một cầu thủ đối phương và có một cầu thủ đối phương khác đứng gần đường biên ngang sân đối phương hơn hoặc đứng ngang với 2 cầu thủ đối phương cuối cùng, thì không bị coi là ở vào vị trí việt vị.

3. Trong khi áp dụng luật việt vị, các trợ lý trọng tài chỉ căng cờ báo việt vị khi họ đã xác định rõ cầu thủ phạm luật việt vị. Do đó trong trường hợp còn nghi ngờ, các trợ lý trọng tài không được tham gia vào tình huống đó.

LUẬT XII

LỖI VÀ HÀNH VI KHIẾM NHÃ

A. Những lỗi thô baok bị phạt trực tiếp.

Cầu thủ vi phạm một trong 6 lỗi sau đây mà theo nhận định của trọng tài là cố tình gây nguy khốn hoặc dùng sức một cách thô bạo:

1. Đá hoặc tìm cách đá đối phương.

2. Ngáng chân cầu thủ đối phương.

3. Nhẩy vào đối phương.

4. Chèn hích đối phương.

5. Đánh hoặc tìm cách đánh đối phương.

6. Xô đẩy đối phương.

Hoặc vi phạm 1 trong 4 lỗi sau đây:

1. Khi xoạc bóng đã chạm chân đối phương trước khi chạm bóng.

2. Lôi kéo đối phương.

3. Nhổ nước bọt vào đối phương.

4. Cố tình dùng tay chơi bóng như: ôm bóng, đánh bóng, đẩy bóng bằng tay hoặc cánh tay (không áp dụng pháp luật này cho thủ môn ở trong khu phạt đền của đội mình).

Sẽ bị phạt quả trực tiếp tại chỗ phạm lỗi do đội đối phương thực hiện. Nhưng nếu cầu thủ phạm lỗi trong khu vực cầu môn của đội đối phương thì quả phạt trực tiếp được thực thi ở bất kể điểm nào trong khu vực cầu môn.

Nếu cầu thủ phạm 1 trong 10 lỗi trên trong khu phạt đền của đội mình thì sẽ bị phạt đền 9m.

Quả phạt 9m không nhờ vào vị trí bóng đang ở đâu nếu là hành động phạm lỗi xảy ra trong khu vực phạt đền và bóng đang trong cuộc.

B. Những lỗi thường thì bị phạt quả trực tiếp:

a. Một cầu thủ vi phạm 1 trong 4 lỗi sau đây sẽ bị phạt quả trực tiếp:

1. Theo nhận định của trọng tài, cầu thủ có lỗi chơi nguy hiểm.

2. Cố tình ngăn cản đường chuyển dời của đối phương.

3. Ngăn cản thủ môn đưa bóng vào cuộc.

4. Phạm một trong bất kể lỗi nào khác, không được đề cập đến ở Luật 12, mà trận đấu phải dừng để cảnh cáo hoặc đuổi cầu thủ.

b. Năm lỗi vi phạm của thủ môn.

Thủ môn đang ở trong khu vực phạt đền của đội mình phạm vào bất kể một trong 5 lỗi sau đây đều bị phạt quả trực tiếp: Quả phạt được thực thi trên đường 13m nơi gần điểm phạm lỗi nhất.

1. Sau khi đã khống chế bóng bằng tay, quá thời gian 6 giây không đưa bóng vào cuộc.

2. Phạm lỗi “Bắt bóng hai lần” trước khi đưa bóng vào cuộc (đã thả bóng vào cuộc, thủ môn dùng tay bắt bóng lần thứ 2).

3. Dùng tay chạm bóng do đồng đội chủ động đá về bằng bàn chân.

4.Bắt bóng từ quả ném biên về của đồng đội.

5. Theo nhận định của trọng tài, thủ môn có những thủ pháp câu giờ, làm chậm trận đấu.

C. Những lỗi bị cảnh cáo.

Cầu thủ sẽ bị cảnh cáo bằng thẻ vàng nếu vi phạm một trong 7 lỗi sau đây:

1. Có hành vi phi thể thao.

2. Có hành động hoặc lời nói phản đối quyết định của trọng tài và các thành viên khác.

3.Vi phạm luật nhiều lần.

4. Có hành vi kéo dài thời gian khi đưa bóng vào cuộc.

5. Không chấp hành lao lý khoảng cách 6m trong những quả đá phạt.

6. Tự ý rời khỏi sân khi không có phép của trọng tài.

7. Vào sân hoặc trở lại sân khi không có phép của trọng tài.

Nếu trận đấu phải dừng lại do cầu thủ vi phạm 1 trong 7 lỗi  kể trên, trận đấu sẽ được liên tục lại bằng quả phạt trực tiếp.

D. Những lỗi bị truất quyền thi đấu.

Cầu thủ sẽ bị phạt thẻ đỏ (truất quyền thi đấu) nếu vi phạm một trong những lỗi sau đây:

1. Vi phạm lỗi đặc biệ nghiêm trọng.

2. Có hành vi bạo lực.

3. Nhổ nước bọt vào đối phương hay bất kể ai khác.

4. Có hành vi phạm lỗi với đối phương nhằm mục đích mục đích ngăn cản một thời cơ ghi bàn rõ rệt.

5. Cố tình dùng tay chơi bóng nhằm ngăn cản một cơ hội ghi bàn rõ ràng (trừ thủ môn trong khu phạt đền của mình).

6. Có lời lẽ kích động, lăng mạ hay thô tục.

7. “Độngtác xoạc bóng từ sau gây nguy hại cho sự an toàn khung hình của đối phương phải được xem là hành vi cực kỳ nghiêm trọng”.

8. Nhận thẻ vàng thứ 2 trong một trận đấu.

Những lao lý thi hành

1. Cầu thủ bị truất quyền thi đấu (thẻ đỏ) nếu lỗi xảy ra khi bóng trong cuộc, trận đấu được liên tục bằng một quả phạt trực tiếp tại chỗ phạm lỗi, nếu xảy ra khi bóng ngoài cuộc, trận đấu được tiếp tục theo tình huống bóng ra ngoài cuộc trước đó.

2. Bất kỳ hành vi giả vờ nào của cầu thủ đang thi đấu trên sân nhằm đánh lừa trọng tài đều bị xem làhành vi phi thể thao và bị xử phạt cảnh cáo (thẻ vàng).

LUẬT XIII

NHỮNG QUẢ PHẠT

 1. Trong bóng đá 7 người, tất cả những quả phạt đều là trực tiếp và bàn thắng được công nhận khi cầu thủ đá phạt sút thẳng bóng vào cầu môn đối phương. Nếu cầu thủ đó đá vào cầu môn đội mình bàn thắng không được công nhận, đối phương được đá phạt góc để tiếp tục trận đấu.

2. Thực hiện quả phạt, cầu thủ đối phương phải đứng cách xa bóng tối thiểu 6m.

3. Quy định về triển khai quả phạt trên vạch 13cm.

a. Cầu thủ vi phạm những lỗi thô bạo, nghiêm trọng, ngăn cản một cơ hội ghi bàn hoặc phản đối quyết định của trọng tài, có hành vi khiếm nhã, lời lẽ thô tục – mà vị trí phạm lỗi ở bất kể điểm nào ngoài khu vực phạt đền, trên phần sân của đội phạm lỗi; không kể bóng ở đâu miễn là đang trong cuộc – đội bóng đó sẽ bị phạt quả trực tiếp tại điểm giữa đường 13m.

b. Khi đá quả phạt 13m, trừ thủ môn đội bị phạt, tất cả các cầu thủ của 2 đội bóng phải đứng sau đường 13m, cầu thủ đội phạt phải đứng cách xa điểm đặt bóng 6m, cầu thủ đá phạt phải sút bóng với mục đích ghi bàn thắng chứ không được quyền chuyển bóng cho cầu thủ khác.

c. Trước khi quả phạt triển khai xong, không một cầu thủ nào được chạm bóng cho đến khi bóng chạm thủ môn, cột dọc, xà ngang hay ra ngoài các đường giới hạn.

Cách xử phạt:

Bất kỳ vi phạm nào với pháp luật triển khai quả phạt trên đường 13m rơi vào:

1. Đội bị phạt: Quả phạt được triển khai lại nếu không ghi thành bàn thắng.

2. Đội được đá phạt: Không kể cầu thủ đá phạt – nếu bàn thắng được ghi sẽ không được công nhận và thực thi lại quả phạt.

3. Cầu thủ thực thi quả phạt:

+ Sau khi bóng vào cuộc lại tiếp tục chạm bóng lần thứ 2, đội đối phương được hưởng quả phạt tại nơi phạm lỗi.

+ Di chuyển đến bóng không liên tục (được coi là có hành vi khiếm nhã) nếu ghi bàn thắng, thực thi lại quả phạt và cầu thủ đó bị cảnh cáo.

LUẬT XIV

PHẠT ĐỀN

Đội bóng có cầu thủ phạm một trong 10 lỗi phạt trực tiếp mà có vị trí phạm lỗi trong khu phạt đền của đội mình lúc bóng đang trong cuộc, sẽ bị phạt quả phạt đền.

Từ điểm phạt đền 9m, bóng trực tiếp vào cầu môn đội phạm lỗi sẽ được công nhận là bàn thắng hợp lệ.

Khi có quả phạt đền ở phút ở đầu cuối của mỗi hiệp chính hoặc hiệp phụ, phải bù thêm thời gian để thực thi xong quả phạt đền.

1. Vị trí bóng đá và cầu thủ:

a. Bóng: Được đặt ngay trên điểm phạt đền 9m.

b. Cầu thủ triển khai quả phạt đền:

Phải được thông tin rõ ràng.

c. Thủ môn đội bị phạt: Đứng trên đường cầu môn trong khoảng giữa 2 cột dọc, mặt hướng về cầu thủ đá phạt, cho đến khi bóng được đá đi.

d. Các cầu thủ khác:

– Đứng trong sân.

– Ngoài khu phạt đền. 

– Phía sau điểm phạt đền.

– Cách xa điểm phạt đền tối thiểu 6m.

2. Trọng tài:

– Chỉ thổi còi cho phép triển khai quả phạt đền khi tất cả các cầu thủ đã đứng vị trí theo yêu cầu của Luật.

– Chỉ ra quyết định khi đã thực thi xong quả phạt đền.

3. Trình tự thực thi quả phạt đền:

– Cầu thủ triển khai quả phạt đền phải triển khai chạy đà liên tục và đá bóng về phía trước. 

– Không được tiếp tục chạm bóng lần thứ hai khi chưa có cầu thủ nào chạm vào bóng.

– Bóng được là voà cuộc khi bóng được đá đi và chuyển dời về phía trước.

Khi quả phạt đền triển khai trong thời gian bù thêm giờ để triển khai xong quả phạt đền hoặc khi triển khai lại quả phạt đền đó thì trận đấu (hoặc hiệp đấu) sẽ được kết thúc ngay khi:

– Bóng vào thẳng cầu môn.

– Bóng chạm thủ môn, khung cầu môn vào cầu môn.

– Bóng ra ngoài hoặc bật từ thủ môn, khung cầu môn trở lại sân.

Cách xử phạt:

a. Đội bị vi phạm luật này, sẽ thực thi lại quả phạt đền nếu bóng không vào cầu môn.

b. Trừ cầu thủ triển khai quả phạt, đội được hưởng quả phạt vi phạm luật này, sẽ được thực hiện lại quả phạt đền nếu bóng vào cầu môn.

c. Nếu cầu thủ thực hiện quả phạt vi phạm sau khi bóng vào cuộc thì đội đối phương sẽ được hưởng quả phạt trực tiếp tại chỗ phạm lỗi.

d. Nếu cầu thủ cả 2 đội cùng vi phạm, quả phạt được thực hiện lại bất kể hiệu quả thế nào.

THỂ THỨC THI ĐÁ PHẠT LUN LƯU 9M

1. Chỉ những cầu thủ có mặt trên sân lúc trọng tài kết thúc trận đấu mới được phép thi đá luân lưu 9m (kể cả cầu thủ được phép ra ngoài để chữa vết thương).

2. Mỗi đội đá 5 quả luân lưu theo những lao lý sau đây:

a. Hai đội lần lượt đá xen kẽ nhau.

b. Trước khi thực hiện đủ 5 quả, một đội đã ghi được số bàn thắng nhiều hơn số bàn thắng đội kia có thể ghi được nếu đá đủ 5 quả thì trọng tài cho ngừng lại.

c. Nếu sau khi đá 5 quả mà số bàn thắng bằng nhau hoặc không đội nào ghi được bàn thắng sẽ tiếp tục thực hiện đá xen kẽ từng quả một cho tới khi có đội ghi được nhiều bàn thắng hơn.

3. Những pháp luật thi hành Luật:

Khi kết thúc trận đấu, nếu hai đội bóng có số lượng cầu thủ không bằng nhau (do bị thẻ đỏ hoặc chấn thương không thể trở lại sân) đội có nhiều cầu thủ hơn sẽ phải giảm số lượng để khi bắt đầu đa luân lưu hai đội có số cầu thủ bằng nhau. Đội trưởng phải thông báo với trọng tài list những cầu thủ không tham gia thi đá luân lưu 9m.

LUẬT XV

NÉM BIÊN

Khi quả bóng hoàn toàn vượt khỏi đường biên dọc dù ở mặt sân hoặc ở trên không, cầu thủ của đội không chạm bóng sau cuối được ném biên từ vị trí bón vượt khỏi đường biên dọc, về bất kể hướng nào. Cầu thủ ném biên phải quay mặt vào sân, có thể giẫm một pần mỗi chân lên biên dọc hoặc đứng hẳn ra ngoài sân cách đường biên tối đa 1m. Phải dùng lực đều cả 2 tay ném bóng từ phía sau liên tục qua đầu. Bóng được coi là trong cuộc ngay sau khi vào sân, và cầu thủ ném biên không được chơi bóng lần nữa nếu chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác. Từ quả ném biên bóng trực tiếp vào cầu môn, bàn thắng không được công nhận.

Cách xử phạt:

a. Ném biên không đúng quy định, quyền ném biên được chuyển cho đối phương.

b. Cầu thủ đối phương nhảy lên hoặc quơ tay trước mặt cầu thủ ném biên là hành vi khiếm nhã bị cảnh cáo và phạt quả trực tiếp.

LUẬT XVI

QUẢ PHÁT BÓNG

Khi quả bóng hoàn toàn vượt hẳn qua đường biên ngang phía ngoài khu cầu môn, dù ở mặt sân hoặc trên không, do người chạm bóng cuối cùng là cầu thủ của đội tấn công, đội phòng thủ được thực hiện quả phát bóng ở bất kỳ vị trí nào trong khu vực cầu môn. Bóng được coi là trong cuộc khi được đá trực tiếp ra khỏi khu vực phạt đền. Thủ môn không được quyền nhận bóng từ quả phát bóng để rồi cầm tay đá phát bóng lên. Nếu bóng chưa ra khỏi khu vực phạt đền nghĩa là chưa trực tiếp vào cuộc, sẽ phải thực hiện lại quả phát bóng. Cầu thủ thực hiện quả phát bóng không được chạm bóng lần thứ 2 khi bóng chưa chạm hoặc đá bởi một cầu thủ khác. Bàn thắng được công nhận từ quả phát bóng trực tiếp vào cầu môn.

Khi đá phát bóng, cầu thủ đối phương phải đứng ngoài khu phạt đền đến khi bóng ra khỏi khu phạt đền.

LUẬT XVII

QUẢ PHẠT GÓC

Khi bóng hoàn toàn vượt hẳn đường biên ngang phía ngoài khung cầu môn, dù ở mặt sân hoặc trên không do người chạm cuối cùng là cầu thủ của đội phòng thủ, thì đội tiến công sẽ được đá quả phạt góc. Khi thực hiện quả phạt góc bóng trực tiếp vào cầu môn – bàn thắng được công nhận. Các cầu thủ đội đối phương phải đứng sau vạch quy định, cách bóng 6m cho đến khi bóng vào cuộc.

– Cầu thủ đá phạt không được liên tục chạm bóng lần thứ 2.

– Đối với bất kỳ vi phạm nào khác, quả phạt góc phải được thực hiện lại.