Sự hộ pháp của người cư sĩ xưa & nay

NSGN – Phật giáo vào thời Đức Phật còn tại thế được duy trì và phát triển bởi bốn chúng gồm hai chúng xuất gia và hai chúng cư sĩ. Vai trò của mỗi chúng được phân định rõ ràng theo lời dạy của Đức Phật được ghi lại trong tạng Luật.

Từ xưa tới nay, người Phật tử tiếp nối truyền thống lịch sử cuội nguồn lịch sử lịch sử
của tổ tiên – truyền thống hộ quốc an dân – Ảnh minh họa

Người xuất gia sống từ bỏ gia đình, chuyên tâm học pháp, hành thiền nhằm mục đích mục tiêu đạt quả Thánh giải thoát và để giáo hóa chúng sanh tùy năng lượng mỗi người. Trong khi đó, người cư sĩ được hướng dẫn tương hỗ hàng xuất gia trải qua việc thực hành thực tiễn thực tế thực tế thực tế hạnh bố thí cúng dường và được khuyến khích thực hành những điều đạo đức nhằm đạt phước báu nhân thiên. Việc trợ duyên của hàng cư sĩ cho hàng Thánh chúng nói chung được gọi là hộ pháp.

Tuy nhiên, nếu khám phá kỹ ta thấy rằng hàng cư sĩ thời Đức Phật không riêng gì hộ pháp bằng cách bố thí cúng dường mà còn hộ pháp bằng cách góp phần quan điểm hay ý kiến ý kiến đề nghị thực hành những điều có ích cho Tăng đoàn và đạo Phật.

Ngày nay, sự hộ pháp của hàng cư sĩ càng phong phú hơn với nhiều hình thức khác nhau từ bố thí cúng dường vật thực cho đến thực hành pháp và phổ biến, giảng dạy Phật pháp. Vì chủ đề này khá rộng nên bài viết chỉ đàm đạo việc hộ pháp của hàng cư sĩ vào thời Đức Phật và thời nay tại Việt Nam. Những thử thách và giải pháp cũng được đề cập để trao đổi.

Người xuất gia sống từ bỏ gia đình, chuyên tâm học pháp, hành thiền nhằm đạt quả Thánh giải thoát và để giáo hóa chúng sanh tùy năng lượng mỗi người. Trong khi đó, người cư sĩ được hướng dẫn tương hỗ hàng xuất gia trải qua việc thực hành hạnh bố thí cúng dường và được khuyến khích thực hành những điều đạo đức nhằm đạt phước báu nhân thiên. Việc trợ duyên của hàng cư sĩ cho hàng Thánh chúng nói chung được gọi là hộ pháp.Tuy nhiên, nếu tìm hiểu và khám phá kỹ ta thấy rằng hàng cư sĩ thời Đức Phật không riêng gì hộ pháp bằng cách bố thí cúng dường mà còn hộ pháp bằng cách góp phần ý kiến hay đề nghị thực hành những điều có ích cho Tăng đoàn và đạo Phật.Ngày nay, sự hộ pháp của hàng cư sĩ càng phong phú hơn với nhiều hình thức khác nhau từ bố thí cúng dường vật thực cho đến thực hành pháp và phổ biến, giảng dạy Phật pháp. Vì chủ đề này khá rộng nên bài viết chỉ tranh luận việc hộ pháp của hàng cư sĩ vào thời Đức Phật và thời nay tại Việt Nam. Những thử thách và giải pháp cũng được đề cập để trao đổi.

Khái niệm hộ pháp

Từ hộ pháp vừa có nghĩa là người ủng hộ Phật pháp, vừa có nghĩa là sự che chở bảo vệ Chính pháp. Theo Từ điển Phật học Hán Việt, hộ pháp là ủng hộ Chính pháp của Phật, Bồ-tát. Nhờ sự ủng hộ của những bậc có lực lượng lớn nên đạo không bị diệt. Từ Phạm thiên, Đế-thích, Bát bộ quỷ thần cho đến vua chúa và những đàn việt ở trần gian là người bảo lãnh Phật pháp đều được gọi là hộ pháp(1). Theo lịch sử một thời Phật giáo, “Có những loài trời và loài quỷ thần, có duyên lành, được nghe pháp Phật và giác ngộ, quy y theo Phật pháp và nguyện bảo vệ Chính pháp. Người ta gọi họ là những ông Thần Hộ pháp”(2). Trong bài Mẫu hình người cư sĩ lý tưởng, tác giả Chúc Phú điều tra và nghiên cứu và điều tra và điều tra và điều tra và điều tra và phân tích ba cách hộ pháp của người cư sĩ. Thứ nhất là tương hỗ những phương tiện đi lại và điều kiện kèm theo kèm theo kèm theo sống cho Tăng đoàn. Thứ hai là tương hỗ về khoảng trống tu. Thứ ba là giữ gìn những phương tiện có liên quan đến Tam bảo như kinh điển, chùa chiền, thanh danh đạo Phật, v.v…(3).

Hộ pháp còn gọi là hộ trì Chánh pháp hay hộ trì Phật pháp. Phân tích sâu hơn về hộ pháp, Hòa thượng Thích Trí Quảng cho rằng: “Phật và Thánh chúng mới có Phật pháp. Còn chúng phàm phu chỉ đóng vai hộ trì Phật pháp”. Từ đó, Hòa thượng giải thích: “Không làm mất lòng người, không làm não phiền người, gieo vào lòng người sự tôn kính là hộ trì Phật pháp. Tu hành mỗi ngày tâm hành giả được hoan hỷ, an nhàn là đã hộ trì Chánh pháp. Niệm Phật, nhớ Phật, niệm kinh nhớ lời dạy của Phật là hộ trì Phật pháp. Hộ trì Phật pháp là hộ trì trong lòng mình và trong lòng mình có Phật thì Phật sẽ chỉ đạo cho lời nói, suy nghĩ và hành động của mình trở thành Chánh pháp”(4).

Như vậy, việc hộ pháp được bộc lộ qua yếu tố đơn cử cho đến bộc lộ qua ý niệm trong tâm. Ở đây, bài viết sẽ dựa trên ba cách hộ pháp của người cư sĩ vừa nêu để phân tích và thảo luận.

Hộ pháp thời Đức Phật

Theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy, Đức Phật và Tăng đoàn sống nhờ vào sự cúng dường của hàng cư sĩ. Đó là truyền thống của những Đức Phật do chính Đức Phật Thích Ca xác nhận với vua Tịnh Phạn nhằm lý giải sự than phiền của vua. Sự kiện này xảy ra trong chuyến thăm quê nhà đầu tiên của Đức Phật. Khi vua cha thấy Thái tử Tất Đạt Đa (Sidhartha) – lúc ấy đã thành Phật ôm bình bát đi khất thực trong thành, vua than phiền và cho rằng Phật đã làm ô danh dòng họ Thích Ca (Sakya). Theo Luật tạng, Đức Phật chỉ được cho phép hàng xuất gia sở hữu ba y, một bình bát và một vài vật dùng cá thể khác. Trong hoạt động và hoạt động và hoạt động và hoạt động và hoạt động và sinh hoạt hàng ngày, họ được phép dùng bốn thứ thiết yếu là thức ăn, y áo, thuốc men và chỗ ở.

Với truyền thống sống bằng cách khất thực, hàng xuất gia không tự cung tự túc sản xuất ra vật chất để sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày mà phải nhờ vào sự hiến cúng của hàng cư sĩ. Họ cần sự hộ pháp của hàng cư sĩ từ thức ăn, vật dụng cho đến chỗ ở. Hàng ngày họ khất thực để được thức ăn duy trì xác thân. Họ nhận y áo cúng dường từ hàng cư sĩ vừa đủ để che thân khi trời nắng mưa, nóng lạnh. Họ trú tại những tinh xá lớn như Trúc Lâm, Kỳ Hoàn…do vua và những cư sĩ phong phú hiến cúng để cùng tu học và hoằng pháp. Ngược lại, họ chế tác ra niềm an lạc niềm hạnh phúc cho tự thân và hướng dẫn tha nhân phương pháp để đạt được như họ. Quả vị giải thoát mà những vị xuất gia chứng đắc là món quà họ đáp lại sức lực lao động hộ pháp của hàng cư sĩ. Nhờ đó, họ hoàn toàn hoàn toàn hoàn toàn có thể hướng dẫn hàng cư sĩ tu tập đúng Chánh pháp và hiệu suất cao hơn.

Tóm lại, hàng xuất gia thời Phật không được phép chất chứa thức ăn hay của cải vật chất, không bận tâm việc xây đắp chùa tháp hay tinh xá. Công việc của họ là tu tập để chứng quả Thánh và truyền bá Phật pháp.

Tuy nhiên, không phải toàn bộ những vị xuất gia thời Phật đều là những người thật tâm xuất gia. Với những người vì mục tiêu lánh đời xuất gia, việc tạo tác những hành vi phạm pháp của họ có thể đoán trước được. Trước tình hình này, chính hàng cư sĩ có những góp phần trong việc ngăn ngừa và góp ý tưởng sáng tạo (duyên cớ) để Phật chế giới. Luật tạng ghi lại nhiều trường hợp xuất gia vì mục đích trốn nợ, trốn lính, trốn hình phạt, hay để được ăn no mặc đẹp…(5). Vì mục đích phi pháp, những nhóm Tỳ-kheo này không giữ được oai nghi của người xuất gia nên bị ngoại đạo chê cười và hàng cư sĩ phàn nàn. Trong một số ít trường hợp, vua Bimbisara đã gặp Đức Thế Tôn và nhu yếu chọn lựa khi độ người xuất gia. Tương tự, nữ cư sĩ Visakha cũng góp phần hòa giải sự không tương đồng trong chúng Tỳ-kheo-ni hay thỉnh Phật chế một số giới cho hàng Ni chúng(6). Đây thuộc về cách hộ pháp bảo vệ thanh danh Phật giáo.

Cấp-cô-độc và thái tử Kỳ-đà

Cư sĩ hộ pháp bằng cách giảng dạy hay thông dụng Phật pháp hiếm thấy đề cập trong tầm cỡ Phật giáo. Có lẽ thời ấy trách vụ cúng dường cho hàng xuất gia cần thiết hơn là hoằng pháp bởi trách vụ phổ cập Phật pháp đã có Đức Phật và Thánh chúng đảm trách.

Hộ pháp ở Nước Ta hiện nay

Sự hộ pháp ở Nước Ta có nhiều đổi khác so với thời Phật nhằm thích ứng với điều kiện môi trường tự nhiên mới. Hình thức Phật giáo truyền vào Nước Ta không còn là Phật giáo Nguyên thủy thuần túy mà là Phật giáo Theraveda và Phật giáo Phát triển, trong đó hình thức Phật giáo sau phổ cập và thông dụng rộng hơn. Sử liệu Phật giáo cho thấy những thương nhân Phật tử đã mang hình thức Phật giáo tín ngưỡng thờ cúng Phật và Bồ-tát vào Nước Ta trong quá trình du nhập đầu tiên. Về sau, những thiền sư người Ấn và Hoa truyền Phật pháp vào Nước Ta và cũng nhờ hàng cư sĩ gồm có nhiều những những tầng lớp chung tay góp phần kiến thiết thiết kế kiến thiết kiến thiết kiến thiết kiến thiết xây dựng nên các ngôi chùa lớn nhỏ khắp quốc gia – tạo khoảng trống sinh hoạt, tu tập và truyền bá Chánh pháp cho tứ chúng.

Nổi bật trong hàng cư sĩ góp phần xây dựng chùa chiền với quy mô to lớn là tầng lớp lãnh đạo gồm có các triều đại vua chúa và các quan. Điều đáng chú ý quan tâm là khởi đầu từ giai đoạn này về sau, hàng xuất gia đóng vai trò quan trọng trong việc kiến lập tự viện, đơn cử là các sư trụ trì.

Ngày nay, hầu hết nếu không muốn nói là tất cả chùa chiền đều do sư trụ trì đứng ra xây dựng dựa trên sự cúng dường của hàng cư sĩ. Theo pháp lý hiện hành, người cư sĩ không đủ pháp nhân để đứng ra xin phép xây dựng chùa trừ các Ban hộ tự được Giáo hội và Nhà nước công nhận. Tuy nhiên, rất hiếm Ban hộ tự đủ năng lượng hoạt động tài chánh để xây dựng hay trùng tu các ngôi chùa. Do vậy, hàng cư sĩ vẫn liên tục hộ pháp bằng cách hỗ trợ khoảng trống tu nhưng thường là gián tiếp thay vì trực tiếp như thời Đức Phật.

Theo truyền thống Phật giáo Đại thừa, đời sống của hàng xuất gia không dựa trên pháp khất thực mà phải tự túc sinh hoạt dựa trên sự cúng dường của hàng cư sĩ. Chùa chiền bắt đầu phải tích trữ của cải vật chất để ship hàng đời sống Tăng Ni và nhiều chùa còn san sẻ của ấy cho đồng bào còn khó khăn. Cư sĩ không phải cúng thức ăn hàng ngày mà thường hộ pháp qua việc cúng dường tài vật để chùa tự lo liệu theo nhu yếu sinh hoạt ở mỗi nơi. Nói chung, sự hộ pháp theo cách thức thứ nhất vẫn liên tục duy trì dù có sự đổi khác cho thích hợp.

Sự hộ pháp theo cách thứ ba có nhiều biến hóa quan trọng thích ứng với điều kiện và nhu yếu hiện đại. Người cư sĩ suốt nhiều năm qua đã góp phần phiên dịch nhiều kinh điển, tham gia giảng dạy Phật pháp, nghiên cứu và xuất bản nhiều tài liệu về Phật giáo nhằm phổ cập lời dạy của Đức Phật đến mọi người, và đặc biệt quan trọng là tham gia công tác hành chính của Giáo hội. Nhiều cư sĩ đã hy sinh công sức và cả thân mạng để cùng với Tăng Ni bảo vệ Phật giáo trong thời kỳ Phật giáo gặp khó khăn. Có thể kể đến những vị có công lớn trong cách hộ pháp này như cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, cư sĩ Minh Chi, các Thánh tử đạo…

Những thử thách và giải pháp tham khảo

Sự hộ pháp của hàng cư sĩ thời nay có nhiều hình thức nên cũng gặp nhiều thử thách khác nhau. Thứ nhất, hộ pháp về đời sống sinh hoạt của Tăng Ni thường nhờ vào vào mối quan hệ giữa chùa và cư sĩ hơn là nhu cầu thực tế của chùa ấy. Ở chùa nào sư trụ trì có năng lực và biết cách thu hút Phật tử thì chùa ấy sung túc hơn. Sự cúng dường theo cách này thường dựa trên xúc cảm.

Thứ hai, hộ pháp trải qua sự cúng dường xây dựng chùa tháp cũng rơi vào thực trạng tương tự. Có nhiều chùa được xây dựng quy mô hoành tráng đến mức xa xỉ vì nhận được nhiều tịnh tài từ cư sĩ trong khi nhiều chùa trải qua nhiều năm xây dựng không hề hoàn thành. Tất nhiên, hạn chế này không phải lỗi của người cư sĩ mà hầu hết thuộc về người quản trị và sử dụng tịnh tài.

Thứ ba, hộ pháp bằng cách truyền bá lời Phật dạy trải qua dịch kinh, giảng dạy, xuất bản sách… trên thực tế chưa tương ứng với tiềm năng của cư sĩ. Vai trò của cư sĩ Nước Ta trong nghành nghề dịch vụ này còn mờ nhạt bởi hầu hết họ góp phần một cách tự phát, tự nguyện, thiếu tổ chức triển khai bài bản, và thiếu “đất dụng võ”. Hạn chế này phần lớn là do tổ chức Giáo hội chưa có kế hoạch đơn cử để tận dụng nhân tài cư sĩ.

Có thể nói khó có giải pháp cụ thể nào để xử lý yếu tố hạn chế trên. Đặc trưng của Phật giáo là không có giáo quyền cho nên mọi hình thức dùng quyền lực để quản lý và điều hành đều thất bại. Ta biết rằng hình phạt cao nhất so với hàng xuất gia là tẩn xuất (khai trừ) trong khi không có hình thức kỷ luật nào đối với cư sĩ. Đạo Phật cũng có đặc trưng nữa là dùng đức trị, tức nhờ công đức tu tập mà hóa độ được quần chúng, đưa họ về với con đường chánh đạo. Tăng Ni gương mẫu, Giáo hội trang nghiêm thì sẽ tìm ra giải pháp khả dĩ để khắc phục hạn chế. Nghĩa là, các chùa điều tiết sinh hoạt tương thích với nhu cầu cần thiết để có thể đóng góp vào nguồn dự trữ của Giáo hội. Ngược lại, Giáo hội phải sử dụng nguồn dự trữ để đầu tư hài hòa và hợp lý và có hiệu quả thiết thực. Nếu thực thi được vai trò này, sự hạn chế của cách thức hộ pháp thứ nhất và thứ hai phần lớn được khắc phục. Xem ra giải pháp này khó thành hiện thực tối thiểu trong hiện tại.

Nhu cầu nghiên cứu Phật học thời nay rất phổ biến. Quần chúng không chỉ đến với đạo Phật để thực hành tín ngưỡng tâm linh mà còn nghiên cứu, học hỏi giáo pháp vi diệu của Đức Phật. Các phân khoa Phật học được mở ra tại nhiều trường đại học lớn trên thế giới, các hội thảo về Phật giáo có nhiều cư sĩ tham dự với nhiều bài tham luận có chất lượng cao. Nhiều tạp chí nghiên cứu Phật giáo do cư sĩ không phải Phật tử đảm trách. Trước nhu cầu tìm hiểu Phật học của đông đảo quần chúng, sự hộ pháp bằng cách phổ biến, lý giải Phật pháp đang gặp thử thách bởi thiếu nhân sự và thiếu điều kiện nghiên cứu.

Do đó, tổ chức Giáo hội cần có một chủ trương chiến lược để quy tụ những người có năng lực tham gia nghiên cứu các vấn đề liên quan đến đời sống tu tập của đồng bào Phật tử nhằm tạo chương trình trợ duyên cho họ và cũng để bảo vệ đạo pháp. Xa hơn là nghiên cứu phương cách đưa đạo Phật đến các vùng xa xôi của đất nước.

Lời kết

Sự hộ pháp của hàng cư sĩ thời Đức Phật đơn thuần trong khi hiện tại đa dạng và phức tạp. Ngày xưa, cư sĩ chỉ hộ pháp bằng cách cúng dường thức ăn hay khoảng trống tu tập nhỏ nào đó thì thời nay họ phải cúng dường nhiều thứ theo nhu cầu thực tế. Thời xưa hàng cư sĩ không phải nghĩ đến việc hoằng pháp vì uy đức của Đức Phật và Tăng đoàn quá lớn và nếu có thì họ chỉ thao tác ra mắt tín chúng đến gặp Phật hay Thánh chúng. Thời nay việc hoằng pháp rất cần sự tham gia của cư sĩ thông qua sự giảng dạy, xuất bản hay trình làng Phật pháp và sự tu tập bản thân.

Riêng về hộ trì Phật pháp bằng chính sự tu tập của bản thân, còn nhiều điều tất cả chúng ta cần suy nghĩ. Sinh hoạt ở nhiều chùa vẫn chưa đẹp như tình trạng tranh giành hơn thua ngay trong chùa, nhiều Fan Hâm mộ còn thiếu ý thức nên chia phe nhóm rồi gây buồn chán nhau, nhiều cư sĩ còn thiếu oai nghi trong khi đi đứng nói năng trong nhà thời thánh chùa chiền… Đây là những thử thách trong vấn đề hộ pháp.

Hội đồng Liên Hiệp Quốc tôn vinh đạo Phật và công nhận ngày Đản sanh của Đức Phật là ngày lễ quốc tế bởi sự đóng góp to lớn của Đức Phật và giáo pháp nhân bản của Ngài. Hộ pháp đúng nghĩa thì phải giữ gìn ý thức cao đẹp của Chánh pháp. Nó biểu hiện qua hành vi của từng hành giả tu tập. Do đó, mỗi người con Phật nói chung và mỗi cư sĩ nói riêng nếu thể hiện được nét đẹp của Chánh pháp qua cách đi đứng trang nghiêm, lời ăn tiếng nói nhẹ nhàng dễ nghe, và suy nghĩ tích cực xây dựng thì đã đóng góp rất lớn trong sự hộ pháp.

Thích Hạnh Chơn

__________________

(1) Kim Cương Tử chủ biên, Từ điển Phật học Hán Việt, Hà Nội: NXB.Khoa Học Xã Hội, tr.525.

(2) Từ Điển Phật Học Online .

(3) Chúc Phú, Mẫu hình người cư sĩ lý tưởng, .

(4) Thích Trí Quảng, Hộ trì Phật pháp, < http://www.daotrangphaphoa.net/bai-giang/kien-thuc-phat-phap/ho-tri-phat-phap/>.

(5) Đại Phẩm, Chương trọng điểm < http://www.budsas.org/uni/u-luat-daipham/dp-01c.htm>.

(6) Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật pháp. TP.HCM: NXB. Tổng Hợp TP.HCM, 2013, tr.187.