Ðem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ

Ðem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ

       
Cũng trong bữa tiệc đoàn viên, tiếp theo lời của Vân, Kim Trọng xin Kiều
được kết duyên vợ chồng để bù lại mối tình xưa đã thề nguyền vì gia
biến bị dang dở. Kiều từ chối, có câu:

Nghĩ rằng trong đạo
vợ chồng
Hoa thơm phong nhị trăng vòng tròn gương
Chữ trinh đáng giá nghìn vàng
Ðiếu hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa
Thiếp từ ngộ biến đến giờ
Ong hoa bướm lại đã thừa xấu xa
Bầy chầy gió táp mưa sa
Mấy trăng cũng khuyến mấy hoa cũng tàn
Còn chi là cái hồng nhan
Ðã xong thân thế còn toan nỗi nào?
Nghĩ mình chẳng hổ mình sao
Dám đem trần cấu dự vào bố kinh!
Ðã hay chàng nặng vì tình
Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!
Từ rày khép cửa phòng thu
Chẳng tu thì cũng như tu mới là
Chàng dù nghĩ đến tình xa
Ðem tình cầm sắt đổi ra cầm cờ
Nói chi kết tóc xe tơ
Ðã buồn cả ruột lại dơ cả đời

(câu 3093 đến 3112)

       
Từ chối lời nhu yếu của Kim Trọng, Kiều cho rằng trong đạo vợ chồng, người
phụ nữ lấy chồng phải như là “đoá hoa thơm còn phong kín nhị”
hay phải như “vầng trăng tròn rực rỡ”  tức có ý chỉ
phải còn trinh, đây là một vật quý báu. “Giá đáng nghìn vàng”
không phải là một lượng số chỉ định (một nghìn, hai nghìn, ba nghìn…).
Nếu hiểu rằng bằng lượng số chỉ định thì tên Mã Giám Sinh mua Kiều bốn
trăm lượng ngoài vàng (giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm), như
vậy chỉ còn thiếu năm trăm lượng ngoài vàng nữa là mua được cái trinh của
Kiều hay sao? Ðối với bọn mua và bán dâm hẳn hiểu như vậy. Phong tục tập quán
ngày xưa so với phụ nữ thì không có nghĩa như thế. “Nghìn”
(ngàn) ở đây là phiếm chỉ chỉ định từ, chỉ quá số không thể ước định
được. Cũng như chữ trinh quý như vàng quá số không đếm được.

       
Và, như vậy trong đêm tân hôn, dưới ánh đuốc hoa (hoa chúc), Kiều
chẳng thấy thẹn với Kim Trọng, vì rất lâu rồi (mai xưa), Kiều còn trinh,
còn “tuyết sạch giá trong”. Vàng là vật quý nhất của kim
loại, trinh là vật quý nhất của người con gái được quý trọng coi như
vàng…. Người con gái cần “gìn vàng giữ ngọc”, “chọn
mặt gửi vàng, chọn người giữ ngọc”, vậy người con gái gởi vàng
trao ngọc cho ai? Phải chăng để trao gởi cho chàng!

       
Trái lại, thời nay đã khác xa rồi.

       
Vì ngộ biến, 15 năm đoạ đày trong kiếp phong trần luân lạc, trải qua bao
nhiêu ong bướm dập vùi như cảnh hoa tàn trăng khuyết… đâu dám đem thân
làm một người vợ không xứng danh với chồng. Và, nếu Kim Trọng có nặng
tình với Kiều, muốn lấy Kiều làm vợ thì đêm tân hôn đổi bóng dưới ánh
sáng của đuối hoa (hoa đèn), Kiều há chẳng hổ thẹn lắm ru!

       
“Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm…”. “Hoa
đèn” có người chú giải: là cái khối khói kết lại trong ngọn đèn
dầu, có sắc đỏ và đen, hình giống cái hoa. Nhưng “hoa đèn”
ở câu này (câu 3106) không phải là hoa đèn ấy mà là chỉ cái ngọn đèn toả
ánh sáng giống như hoa. Lại có người giải thích: “Hoa đèn”
là thứ hoa không bị nhơ bẩn, mà Kiều thì như đoá hoa bị vấy bẩn nên càng
hổ thẹn với hoa đèn”. Hay là “hoa đèn không có ong bướm nào lui
tới, còn Kiều thì như đoá hoa “ong qua bướm lại” đã thừa
xấu xa, nên nàng thẹn với hoa đèn”.

       
Chắc không phải vậy. Tuy có hay.

       
“Hoa đèn” hay “đuốc hoa”… ở đây cũng chỉ
là một. Tức là đèn nến thắp trong phòng của chàng rể và nàng dâu đêm tân
hôn, theo từ Hán là “hoa chúc”. Và, hai câu:

Ðuốc hoa chẳng
thẹn với chàng mai xưa
Trông hoa đèn chẳng thẹn mình lắm ru!

       
Tuy cùng một đuốc hoa hay đèn, nhưng có hai ý nghĩa khác nhau do hai ý của
đoạn văn.

       
Trong đạo vợ chồng, đêm động phòng hoa chúc, nếu nàng còn trinh tiết tất
nhìn ngọn đèn mà chẳng hổ thẹn với chàng, vì ngày xưa nàng gìn giữ tặng
chàng trong đêm hôm nay. Cũng trong đạo vợ chồng, đêm động phòng, nếu
nàng- trước kia đã mất trinh rồi- nhìn hoa đèn hẳn hổ thẹn lấy lòng mình.

       
Cả hai câu trên đều có dùng chữ “chẳng thẹn”. Câu trên
“chẳng thẹn” là thực sự chẳng thẹn; câu dưới “chẳng
thẹn” mà ngược lại là thẹn. Tác giả dùng lối tương phản trong lập
luận của hai chủ đề trái ngược nhau: còn trinh (chẳng thẹn), mất trinh (thẹn)
tuy cùng dùng “chẳng thẹn”.

       
Nhưng sao không nói thẹn với chàng như lập luận trên?

       
Tuy không nói mà đã nói.

       
Vì rằng: còn trinh tiết thì không hổ thẹn với chàng. Trái lại, mất trinh
tiết thì hổ thẹn với chàng là lẽ tất nhiên. Cho nên lập luận dưới, Kiều
cho rằng nàng hổ thẹn ở lòng mình mà còn có cả lẫn hổ thẹn với chàng (đó
là lẽ đương nhiên). Vả lại, trông hoa đèn (vật vô tri) mà nàng còn thấy
thẹn mình, huống chi trông chàng, tình nhân với mối tình đầu nay chung chăn
gối thì sao chẳng thẹn? Cần gì nói nữa.

       
Có quan điểm cho rằng: “Thủy chung Kiều chỉ sợ thẹn nên từ chối. Nếu
làm cho nàng hết thẹn thì việc xong ngay”.

       
LÀM SAO CHO NÀNG HẾT THẸN? Ý KIẾN TRÊN CHỈ ĐẶT VẤN ĐỀ MÀ KHÔNG CÓ NÊU LÊN
biện pháp giải quyết.

       
Trong việc yêu cầu kết thành chồng vợ này, Kim Trọng rất tha thiết nhưng khá
nguỵ biện, lắm lý luận để Kiều đừng thẹn, để chàng đạt được nguyện
vọng. Nhưng Kiều vẫn thẹn, còn thẹn. Vì Kiều sống trong tập tục. Lễ giáo
phong kiến đã tạo cho nàng có một tính tự trọng về sự trinh tiết của người
con gái- điều này cũng tốt đẹp. Nhưng ngược lại, cũng tính tự trọng này
lại bị sức mạnh ràng buộc của lễ giáo, tập tục thành khuôn mẫu nhất định
nên làm cho nàng có mặc cảm tự ti, coi mình như vi phạm một cách nghiêm
trọng.

       
Hơn nữa, về mặt tâm ý ái tình hay tình dục, qua 15 năm lưu lạc làm khách
bán phấn buôn son, Kiều mưu trí đã thừa hiểu qua tâm ý người đàn ông
trong cuộc thì nay đến với Kim Trọng, một ý trung nhân, một người chồng…
tất khó tránh được trong cuộc ái ân phát sinh nhiều ám ảnh hay mặc cảm. Kim
Trọng dầu sao cũng là… một đàn ông, nhất là một người chồng!

       
Nhưng điều này làm cho mặc cảm càng nặng. Do đó, Kiều yêu cầu bằng một
câu khẳng định:

Ðem tình cầm sắt
đổi ra cầm cờ

       
Hẳn cũng có lý.

       
Vậy cần có thời hạn dài. Và chỉ có thời gian với sự đối xử của chàng Kim
“trường kỳ tu dưỡng ái tình” làm lại từ cái mở màn của cái
bắt đầu. Ðể chuyển từ tình cầm cờ (tình bạn) và tình cầm sắt (vợ chồng),
có thể như câu thơ của Vương Nhung đời Nam Tề:

Thoả hiệp kim lan
hảo
Phương du cầm sắt tình

Tức là: vừa hợp nhau tình
bạn tốt mới vui tình vợ chồng.

       
“Cầm sắt” là đàn cầm và đàn sắt. Hai thứ đàn thường
đánh hoà âm với nhau, chỉ cảnh vợ chồng đầm ấm. Duyên cầm sắt là duyên
vợ chồng. Kinh Thi có câu:

Sâm si hạnh thái
Tả hữu thỉ chi
Yểu điệu thục nữ
Cầm sắt vĩ chi

       
Có nghĩa là: “Ngọn rau hạnh dài ngắn không đều nhau, hái cả bên mặt
bên trái; người con gái tươi đẹp dịu dàng tìm được, ta gảy đàn cầm
đàn sắt cho nghe để tỏ tình thân yêu”. Thơ cổ cũng có câu:
“Thê tử hảo hợp như cổ sắt cầm”
(vợ con hoà hợp như
đàn cầm đàn sắt). Truyện “Lục Vân Tiên” của
Nguyễn Ðình Chiểu cũng có câu:

       
Mừng duyên cầm sắt mối tơ đăng liền

(Theo Ðiển tích Truyện Kiều,
NXB Ðồng Tháp)

[Kỳ trước][Kỳ sau]

Chuyên mục này được cập
nhật vào thứ Tư hàng tuần

Thông tin trên mạng Netcodo
Mọi chi tiết xin vui lòng liên hệ tại
Ban Biên Tập Mạng Netcodo
Ðiện thoại: (54)847247 – Email Intranet: [email protected]
Email Internet: [email protected]